Nội dung bài viết Mở Thu gọn
Người Việt quen gọi lịch ta là “lịch âm”, nhưng gọi đúng thì đó là lịch âm dương. Tháng đi theo tuần trăng, còn năm phải bám theo mùa của Mặt Trời. Hiểu được hai nhịp này chạy lệch nhau thế nào là hiểu vì sao có tháng nhuận, vì sao Tết mỗi năm rơi một ngày khác, và vì sao việc xem ngày lại dùng một thứ “tháng” không trùng với tháng in trên tờ lịch.
Ba kiểu lịch: âm, dương và âm dương
Đài Thiên văn Hải quân Hoa Kỳ (USNO) chia lịch thành ba loại. Lịch dương như lịch Gregory bám theo vòng mùa khi Trái Đất quay quanh Mặt Trời và không cố giữ tháng khớp với tuần trăng. Lịch âm lấy mỗi tháng là một vòng tuần trăng trọn vẹn, không bận tâm tới năm mặt trời. Lịch âm dương thì cố giữ khớp cả hai (USNO, Introduction to Calendars).
Lịch Việt thuộc loại thứ ba. Mỗi tháng bắt đầu từ ngày trăng non, nhưng cứ vài năm lại chèn thêm một tháng để Tết luôn rơi vào cuối đông, đầu xuân, chứ không trôi dần sang giữa hè như lịch âm thuần của người Hồi giáo.
Tháng bắt đầu từ ngày Sóc
Ngày mùng một âm lịch là ngày Sóc, tức ngày có thời điểm trăng non (Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời). Nhà nghiên cứu lịch Hồ Ngọc Đức tóm lại nguyên tắc chung của lịch Việt qua mọi thời kỳ bằng hai vế: tháng âm lịch bắt đầu vào ngày Sóc, và tháng nhuận đặt vào tháng không có trung khí (Hồ Ngọc Đức, Lịch Việt Nam qua các thời kỳ).
Một tuần trăng dài khoảng 29,5 ngày, nên tháng âm có 29 hoặc 30 ngày. Không có quy luật “tháng đủ, tháng thiếu” cố định: tháng nào dài bao nhiêu tùy khoảng cách giữa hai lần trăng non liền nhau, mà khoảng cách đó thay đổi theo quỹ đạo Mặt Trăng.
Muốn tự đối chiếu, bạn có thể tra bảng pha Mặt Trăng của USNO. Lưu ý bảng này ghi giờ quốc tế (UTC). Việt Nam dùng giờ UTC+7, nên một lần trăng non lúc 20 giờ UTC thực ra đã sang 3 giờ sáng hôm sau ở Việt Nam, và ngày Sóc là ngày hôm sau chứ không phải ngày ghi trong bảng.
Vì sao có tháng nhuận
Mười hai tuần trăng chỉ khoảng 354 ngày, ngắn hơn năm mặt trời chừng 11 ngày. Nếu không bù, sau ba năm Tết đã lùi sớm hơn một tháng. Cách bù của lịch âm dương là thỉnh thoảng cho năm có 13 tháng.
Nhịp bù này có từ lâu: 235 tuần trăng dài gần đúng bằng 19 năm mặt trời, nên sau 19 năm trăng tròn lại rơi vào cùng ngày trong năm như trước (USNO, chu kỳ Meton). 19 năm thường có 228 tháng, cần thêm 7 tháng nữa cho đủ 235, nên cứ 19 năm có 7 năm nhuận.
Còn nhuận tháng nào thì không đặt tùy ý. Lịch Việt chọn tháng đầu tiên không chứa trung khí (xem phần tiết khí bên dưới) làm tháng nhuận. Vì vậy mỗi năm nhuận một tháng khác nhau. Theo cách tính của công cụ trên site này:
- năm 2023 nhuận tháng 2 âm lịch;
- năm 2025 nhuận tháng 6 âm lịch;
- năm 2028 nhuận tháng 5 âm lịch;
- năm 2031 nhuận tháng 3 âm lịch.
24 tiết khí: phần “dương” của lịch âm dương
Tiết khí là cách người xưa chia năm mặt trời. Vòng biểu kiến của Mặt Trời trên bầu trời (đường hoàng đạo) được chia làm 24 phần, mỗi phần 15 độ. Mỗi lần Mặt Trời đi hết một phần là sang một tiết khí mới, nên các tiết khí rơi vào ngày dương lịch gần như cố định mỗi năm, chỉ xê dịch một hai ngày. Chương về lịch trong Explanatory Supplement to the Astronomical Almanac mô tả cách lịch Trung Hoa dùng 24 tiết khí này (USNO, chương 15).
24 tiết khí chia thành hai nhóm xen kẽ:
- 12 tiết (tiết lệnh): Lập Xuân, Kinh Trập, Thanh Minh, Lập Hạ, Mang Chủng, Tiểu Thử, Lập Thu, Bạch Lộ, Hàn Lộ, Lập Đông, Đại Tuyết, Tiểu Hàn. Đây là các mốc mở đầu mỗi “tháng tiết”.
- 12 trung khí: Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ, Tiểu Mãn, Hạ Chí, Đại Thử, Xử Thử, Thu Phân, Sương Giáng, Tiểu Tuyết, Đông Chí, Đại Hàn. Trung khí là thứ quyết định tháng nhuận: tháng âm nào không chứa trung khí nào thì thành tháng nhuận.
Một mốc nữa cần nhớ: tháng 11 âm lịch luôn chứa ngày Đông Chí. Đây là điểm neo để xếp thứ tự các tháng trong năm, và cũng là lý do tháng 11 còn được gọi là tháng Tý.
Vì sao lịch Việt có năm lệch lịch Trung Quốc
Lịch Việt và lịch Trung Quốc dùng chung nguyên tắc, nhưng tính theo múi giờ khác nhau. Trung Quốc tính theo giờ Bắc Kinh (UTC+8), Việt Nam tính theo giờ Hà Nội (UTC+7). Khi trăng non hoặc một trung khí rơi vào khoảng từ nửa đêm tới 1 giờ sáng giờ Bắc Kinh, thì ở Việt Nam đồng hồ mới chỉ 23 giờ và nó vẫn thuộc ngày hôm trước. Chênh một ngày Sóc là đủ làm lệch một tháng, và chênh một trung khí là đủ làm đổi tháng nhuận.
Theo khảo cứu của Hồ Ngọc Đức, miền Bắc chuyển sang tính lịch theo UTC+7 từ năm 1968; miền Nam dùng UTC+8 từ 1960 tới 1975; từ năm 1976 cả nước thống nhất dùng UTC+7 (Hồ Ngọc Đức). Trong lịch sử cũng có những giai đoạn Việt Nam tự làm lịch riêng, như thời dùng phép Đại Thống (1645 tới 1812) khi nhà Thanh đã đổi sang phép Thời Hiến.
Ví dụ rõ nhất là Tết Ất Sửu 1985. Ở Việt Nam, mùng một Tết là ngày 21/1/1985. Ở Trung Quốc, Tết là ngày 20/2/1985, mà theo lịch Việt thì hôm đó đã là mùng một tháng Hai âm lịch. Hai nước ăn Tết cách nhau gần đúng một tháng chỉ vì một giờ chênh múi giờ.
Công cụ trên xemngaytot tính lịch theo múi giờ UTC+7 của Việt Nam. Nếu bạn so với một cuốn lịch in ở Trung Quốc hay Đài Loan và thấy lệch một ngày mùng một, nhiều khả năng đó là do múi giờ chứ không phải lỗi tính.
Tháng âm và tháng tiết: hai thứ “tháng” trong xem ngày
Đây là chỗ nhiều người nhầm nhất. Tháng in trên tờ lịch là tháng âm, bắt đầu từ ngày Sóc. Nhưng phần lớn phép chọn ngày, như 12 trực hay các ngày kỵ theo tháng, lại dùng tháng tiết: tháng Dần bắt đầu từ ngày Lập Xuân, tháng Mão từ ngày Kinh Trập, và cứ thế theo 12 tiết.
Hai loại tháng này lệch nhau vài ngày tới vài tuần tùy năm. Năm 2027 là ví dụ dễ thấy: Lập Xuân rơi vào ngày 4/2/2027, tức 28 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Theo tháng âm thì hôm đó vẫn là tháng Chạp, nhưng theo tháng tiết thì đã sang tháng Dần. Vì vậy trực của những ngày cuối năm âm lịch đó đã tính theo tháng Giêng, và trong bài 12 trực là gì bạn sẽ thấy trực Kiến lặp lại đúng ở ngày giao tiết này.
Can chi của tháng in trên lịch vạn niên Việt thì vẫn gán theo tháng âm, nên một ngày có thể ghi “tháng Tân Sửu” trên lịch trong khi phép chọn ngày đã coi là tháng Dần. Hai thông tin đều đúng, chỉ là chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Ba loại thông tin nên tách bạch
Khi đọc bất kỳ trang xem ngày nào, kể cả trang này, bạn nên tách ba lớp thông tin:
- Dữ liệu thiên văn: ngày Sóc, tiết khí, tháng nhuận. Phần này kiểm chứng được bằng bảng thiên văn và phải ra cùng một kết quả ở mọi nơi dùng cùng múi giờ.
- Phong tục và quan niệm truyền thống: ngày hoàng đạo, 12 trực, các ngày kỵ. Phần này là di sản văn hóa, có dị bản giữa các sách và các vùng.
- Quy tắc chấm ngày riêng của từng công cụ: cách một trang web kết hợp các lệ trên thành kết luận “ngày tốt” hay “nên tránh”. Phần này mỗi nơi một khác, và nơi tử tế sẽ công bố cách mình làm.
Lớp thứ nhất là nền móng, không nên có tranh cãi. Hai lớp sau mới là chỗ bạn cần đọc kỹ lý do trước khi tin.
Tra nhanh trên xemngaytot
- Lịch âm hôm nay: ngày âm, can chi, tiết khí đang ở, trực và giờ hoàng đạo của từng ngày.
- Đổi ngày âm dương: đổi hai chiều trong khoảng 1900 tới 2100, có đánh dấu tháng nhuận.
- Đọc tiếp: 12 trực là gì và ngày hoàng đạo, giờ hoàng đạo, hai lớp xét ngày dựa trực tiếp trên tháng tiết.
