Nội dung bài viết Mở Thu gọn
Trên mọi tờ lịch âm, bên cạnh con số ngày tháng luôn có một cặp chữ như Quý Mão, Đinh Dậu, Bính Ngọ. Đó là can chi, cách người xưa đặt tên cho năm, tháng, ngày và giờ. Gần như mọi phép xem ngày đều bắt đầu từ cặp chữ này: tuổi nào xung ngày nào, ngày thuộc trực gì, mệnh ngày là gì, năm nào phạm hạn. Bài này giải thích can chi từ gốc, và chỉ cách tự nhẩm được những phần nhẩm được.
Mười thiên can và mười hai địa chi
Thiên can có mười chữ, xếp theo thứ tự cố định. Mỗi can mang một hành trong ngũ hành và một tính âm hoặc dương:
| Thứ tự | Can | Ngũ hành | Âm dương |
|---|---|---|---|
| 1 | Giáp | Mộc | Dương |
| 2 | Ất | Mộc | Âm |
| 3 | Bính | Hỏa | Dương |
| 4 | Đinh | Hỏa | Âm |
| 5 | Mậu | Thổ | Dương |
| 6 | Kỷ | Thổ | Âm |
| 7 | Canh | Kim | Dương |
| 8 | Tân | Kim | Âm |
| 9 | Nhâm | Thủy | Dương |
| 10 | Quý | Thủy | Âm |
Địa chi có mười hai chữ, chính là mười hai con giáp quen thuộc. Người Việt gọi chi Mão là con mèo, chi Sửu là con trâu, khác với một số nước dùng thỏ và bò.
| Chi | Con giáp | Ngũ hành | Chi | Con giáp | Ngũ hành |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Chuột | Thủy | Ngọ | Ngựa | Hỏa |
| Sửu | Trâu | Thổ | Mùi | Dê | Thổ |
| Dần | Hổ | Mộc | Thân | Khỉ | Kim |
| Mão | Mèo | Mộc | Dậu | Gà | Kim |
| Thìn | Rồng | Thổ | Tuất | Chó | Thổ |
| Tỵ | Rắn | Hỏa | Hợi | Lợn | Thủy |
Các chi ở vị trí lẻ (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) là chi dương, các chi còn lại là chi âm. Chi tiết nhỏ này quyết định vì sao chỉ có 60 cặp can chi chứ không phải 120.
Vòng 60 hoa giáp
Can và chi đi song song, mỗi lần cùng tiến một bước: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão… Hết mười can thì can quay lại Giáp trong khi chi mới đi tới Tuất, nên cặp thứ mười một là Giáp Tuất. Vì can dương luôn đi với chi dương và can âm luôn đi với chi âm, sẽ không bao giờ có cặp như Giáp Sửu hay Ất Tý. Kết quả là vòng chỉ có 60 cặp, gọi là lục thập hoa giáp. Hết Quý Hợi thì quay về Giáp Tý.
Cũng vì vậy mà người ta nói “sáu mươi năm mới gặp lại năm sinh”: một người sinh năm Canh Ngọ 1990 sẽ gặp lại năm Canh Ngọ vào 2050.
Cách nhẩm can chi của năm
Can của năm chỉ phụ thuộc chữ số cuối của năm dương lịch:
| Số cuối | 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Can | Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ |
Chi của năm thì lấy năm dương lịch chia cho 12 rồi xem số dư:
| Số dư | 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi |
Ví dụ năm 2026: số cuối là 6 nên can Bính; 2026 chia 12 dư 10 nên chi Ngọ. Năm 2026 là Bính Ngọ. Năm 2027 số cuối 7, chia 12 dư 11, là Đinh Mùi.
Có một điểm cần nhớ: năm can chi không bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 dương lịch. Trên lịch âm, năm mới tính từ mùng 1 Tết; người sinh tháng 1 dương lịch trước Tết vẫn thuộc năm can chi cũ. Riêng lá số bát tự thì lấy mốc Lập Xuân chứ không lấy Tết. Chuyện này được giải thích kỹ trong bài tuổi mụ và tuổi âm.
Can chi của tháng
Chi của tháng cố định theo thứ tự trong năm âm lịch: tháng Giêng là Dần, tháng Hai là Mão, cứ thế cho tới tháng Mười một là Tý và tháng Chạp là Sửu. Nhờ vậy dân gian mới gọi tháng Mười một là “tháng Tý”.
Can của tháng thì đổi theo năm. Chỉ cần biết can của tháng Giêng, các tháng sau cứ thế tiến một can. Người xưa gói phép này trong một bảng năm dòng:
| Can của năm | Tháng Giêng là |
|---|---|
| Giáp hoặc Kỷ | Bính Dần |
| Ất hoặc Canh | Mậu Dần |
| Bính hoặc Tân | Canh Dần |
| Đinh hoặc Nhâm | Nhâm Dần |
| Mậu hoặc Quý | Giáp Dần |
Năm 2026 can Bính nên tháng Giêng là Canh Dần. Đếm tiếp: tháng Hai Tân Mão, tháng Ba Nhâm Thìn, và tháng Tám rơi vào Đinh Dậu, đúng như lịch in cho ngày rằm Trung thu năm ấy.
Lưu ý: tháng in trên lịch là tháng âm. Trong phép xem ngày, một số lớp như 12 trực lại đi theo tháng tiết, tức tháng tính từ các tiết khí như Lập Xuân, Kinh Trập. Hai loại tháng này thường lệch nhau vài tuần, nên đừng dùng can chi tháng trên lịch để tự tính trực.
Can chi của ngày
Can chi ngày chạy liên tục theo vòng 60, không bao giờ ngắt quãng, không phụ thuộc tháng hay năm. Ngày 26/9/2026 là ngày Quý Mão; đếm đủ 60 ngày thì tới 25/11/2026 lại là Quý Mão, và 26/11/2026 là Giáp Thìn.
Chính vì vòng 60 ngày không khớp với độ dài tháng hay năm, can chi ngày gần như không nhẩm được bằng một quy tắc ngắn. Muốn biết một ngày bất kỳ là ngày gì, cách nhanh và chắc nhất là tra lịch. Trang lịch âm hôm nay ghi can chi của từng ngày, còn công cụ đổi ngày âm dương cho biết can chi của một ngày trong quá khứ hay tương lai, từ năm 1900 tới 2100.
Can chi của giờ
Một ngày chia thành mười hai giờ, mỗi giờ dài hai tiếng và mang tên một chi, bắt đầu từ giờ Tý lúc 23 giờ đêm hôm trước. Bảng giờ đầy đủ nằm trong bài 12 canh giờ.
Can của giờ thì theo can của ngày. Người xưa chỉ cần nhớ giờ Tý của ngày đó mang can gì:
| Can của ngày | Giờ Tý là |
|---|---|
| Giáp hoặc Kỷ | Giáp Tý |
| Ất hoặc Canh | Bính Tý |
| Bính hoặc Tân | Mậu Tý |
| Đinh hoặc Nhâm | Canh Tý |
| Mậu hoặc Quý | Nhâm Tý |
Can giờ ít khi dùng trong chọn ngày thường nhật, nhưng lại là một trong tám chữ của lá số bát tự.
Can chi được dùng vào đâu khi xem ngày
Can chi là nguyên liệu của hầu hết các lớp xét ngày. Vài ví dụ cụ thể:
- Tuổi xung. Chi của ngày đối xung với chi năm sinh (Tý với Ngọ, Mão với Dậu…) là dấu hiệu đầu tiên để biết ngày đó có xung tuổi bạn hay không. Cách xét đầy đủ ở bài tuổi xung ngày.
- Mệnh ngày. Mỗi cặp can chi thuộc một nạp âm, như Quý Mão là Kim Bạch Kim.
- Trực. Trực của ngày tính bằng cách so chi ngày với chi tháng tiết.
- Hạn theo năm. Tam Tai và năm tuổi xét theo chi năm sinh so với chi năm đang xem, xem bài Tam Tai và Thái Tuế.
- Hoàng đạo. Vòng 12 thần của ngày khởi theo chi tháng, của giờ khởi theo chi ngày, như trong bài ngày hoàng đạo.
Hiểu can chi không bắt buộc để chọn được ngày. Nhưng khi đã hiểu, bạn đọc kết quả của bất kỳ cuốn lịch nào cũng biết nó đang dựa vào đâu, và biết khi nào hai nguồn nói khác nhau là vì cách tính chứ không phải vì một bên sai.
Tra nhanh
Can chi của hôm nay và cả tháng có trên trang lịch âm. Nếu bạn đang cần một ngày cụ thể cho việc lớn, công cụ xem ngày tốt đã tổng hợp can chi cùng các lớp khác thành một bậc đánh giá cho từng ngày của mười việc thường gặp.
