Nội dung bài viết Mở Thu gọn
“Tuổi Tý lấy tuổi Ngọ thì xung”, “chồng mệnh Kim, vợ mệnh Mộc là khắc”, “hai đứa được Thiên Y là hợp lắm”. Ba câu này nghe như cùng nói về một chuyện, nhưng thực ra là ba lớp xem tuổi khác nhau, tính theo ba cách khác nhau, và hoàn toàn có thể cho ba kết luận trái ngược cho cùng một cặp. Bài này trình bày đủ bốn lớp mà người Việt thường dùng khi xem tuổi vợ chồng, kèm bảng tra từng lớp và hai ví dụ đọc trọn cả bốn.
Lớp 1: con giáp
Đây là lớp phổ biến nhất, chỉ cần biết hai người tuổi con gì. Mười hai con giáp có ba kiểu quan hệ tốt xấu hay được nhắc tới.
Tam hợp: ba tuổi cách nhau bốn năm, được coi là hợp nhau về tính cách và chí hướng.
| Nhóm tam hợp |
|---|
| Thân, Tý, Thìn |
| Dần, Ngọ, Tuất |
| Tỵ, Dậu, Sửu |
| Hợi, Mão, Mùi |
Lục hợp: sáu cặp tuổi được coi là bổ sung cho nhau: Tý và Sửu, Dần và Hợi, Mão và Tuất, Thìn và Dậu, Tỵ và Thân, Ngọ và Mùi.
Xung: sáu cặp đối nhau trên vòng con giáp, gọi là lục xung: Tý và Ngọ, Sửu và Mùi, Dần và Thân, Mão và Dậu, Thìn và Tuất, Tỵ và Hợi. Gộp các cặp xung lại thành ba nhóm bốn tuổi, dân gian gọi là tứ hành xung: Dần Thân Tỵ Hợi, Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi.
Một số người xét thêm lục hại, như Tý và Mùi, Sửu và Ngọ. Mức độ tin vào lục hại khác nhau nhiều giữa các vùng, nên phần lớn chỉ xét tới hợp và xung.
Lớp 2: thiên can
Lớp này nhìn vào can của năm sinh, tức chữ đứng trước con giáp trong tên năm, như Quý trong Quý Dậu hay Đinh trong Đinh Sửu. Cách nhẩm can theo chữ số cuối của năm có trong bài can chi là gì.
- Can hợp (ngũ hợp): Giáp và Kỷ, Ất và Canh, Bính và Tân, Đinh và Nhâm, Mậu và Quý.
- Can xung: Giáp và Canh, Ất và Tân, Bính và Nhâm, Đinh và Quý. Mậu và Kỷ không xung với can nào.
Hai can không hợp cũng không xung thì coi là bình thường. Lớp can ít được nhắc hơn lớp con giáp, nhưng nhiều thầy xem tuổi coi can xung là một điểm trừ đáng kể.
Lớp 3: mệnh nạp âm
“Mệnh” ở đây là nạp âm của năm sinh, như Kiếm Phong Kim, Giản Hạ Thủy. Hai mệnh được so theo ngũ hành:
- Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Được coi là thuận.
- Tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Được coi là nghịch.
- Cùng hành: tùy cách luận. Có nơi coi là bình hòa; có nơi lại cho rằng hai hành giống nhau dễ chọi nhau, như câu “lưỡng hỏa thành viêm” nói về hai người cùng mệnh Hỏa.
Bảng nạp âm theo năm sinh và mẹo nhẩm nhanh có trong bài nạp âm là gì.
Lớp 4: cung phi bát trạch
Lớp này tính từ năm sinh và giới tính ra một trong tám cung: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Ghép cung của chồng với cung của vợ ra một trong tám “du niên”: bốn du niên cát là Sinh Khí, Diên Niên, Thiên Y, Phục Vị; bốn du niên hung là Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Lục Sát, Họa Hại. Đây là lớp có phép tính rõ ràng nhất và là lớp công cụ xem tuổi vợ chồng trên xemngaytot tính tự động.
Cung phi phụ thuộc giới tính, nên hai người cùng năm sinh nhưng khác giới có cung khác nhau. Ngoài chuyện hợp tuổi, cung phi còn dùng để chọn hướng nhà, hướng bếp; công cụ cung phi bát trạch cho biết cung và các hướng hợp của từng người.
Ví dụ 1: chồng 1993, vợ 1996
| Lớp | Chồng Quý Dậu 1993 | Vợ Bính Tý 1996 | Kết luận |
|---|---|---|---|
| Con giáp | Dậu | Tý | Không hợp, không xung |
| Thiên can | Quý | Bính | Không hợp, không xung |
| Mệnh | Kiếm Phong Kim | Giản Hạ Thủy | Kim sinh Thủy, thuận |
| Cung phi | Đoài | Khôn | Thiên Y, cát |
Cặp này không có lớp nào xấu, hai lớp mệnh và cung phi đều thuận. Đây là trường hợp dễ đọc.
Ví dụ 2: chồng 1993, vợ 1997
| Lớp | Chồng Quý Dậu 1993 | Vợ Đinh Sửu 1997 | Kết luận |
|---|---|---|---|
| Con giáp | Dậu | Sửu | Tam hợp Tỵ Dậu Sửu, tốt |
| Thiên can | Quý | Đinh | Can xung |
| Mệnh | Kiếm Phong Kim | Giản Hạ Thủy | Kim sinh Thủy, thuận |
| Cung phi | Đoài | Chấn | Tuyệt Mệnh, hung |
Cùng một người chồng, chỉ đổi vợ sinh muộn hơn một năm, bức tranh khác hẳn. Người chỉ xem con giáp sẽ nói “tam hợp, rất hợp”. Người chỉ xem cung phi sẽ nói “Tuyệt Mệnh, nặng nhất trong bốn du niên hung”. Cả hai đều đúng với lớp mình xem, và đều chưa đủ.
Khi các lớp nói ngược nhau
Ví dụ 2 không hiếm. Vì bốn lớp tính độc lập, phần lớn các cặp sẽ có lớp tốt lớp xấu lẫn lộn. Vài nguyên tắc giúp đọc kết quả bình tĩnh hơn:
- Không lớp nào là phán quyết. Lệ cổ truyền dùng các lớp này để biết trước chỗ nghịch mà dung hòa, không có lệ nào nói cặp phạm một lớp xấu thì không được lấy nhau.
- Cung phi hung thì dung hòa bằng nhà cửa. Cách người xưa làm là bố trí hướng cửa, hướng bếp, hướng giường theo cung của người trụ cột trong nhà.
- Con giáp xung thì chú ý ngày giờ. Khi chọn ngày cưới, tránh những ngày xung tuổi của cả hai người. Bài tuổi xung ngày giải thích cách xét.
- Đừng cộng điểm các lớp. Một số trang chấm “hợp 7/10” bằng cách cộng các lớp. Các lớp không có trọng số chung nào được sách vở thống nhất, nên con số tổng đó trông chính xác nhưng không có căn cứ.
Xem tuổi xong thì tới chọn ngày
Xem tuổi trả lời câu “hai người có thuận nhau không”. Chọn ngày cưới lại là chuyện khác, và theo lệ thì xét chủ yếu theo tuổi cô dâu: năm cưới có phạm Kim Lâu không, tháng nào đại lợi, ngày nào sạch lệ kiêng. Ba tầng đó được trình bày trong bài trụ cột chọn ngày cưới hỏi theo phong tục, và được tính tự động ở trang xem ngày cưới hỏi khi bạn nhập năm sinh hai người.
Tra nhanh
Tính du niên cung phi cho một cặp năm sinh bất kỳ: xem tuổi vợ chồng. Chọn ngày cưới hợp tuổi cả hai người, hoặc ngày tốt cho những việc lớn khác sau cưới như về nhà mới: công cụ xem ngày tốt.
